Tìm kiếm PhanVien.Com Web
Download PhanVien.Com Toolbar
Danh mục thông tin

Thuốc đắng - liệu có dã tật?

Những giải pháp vĩ mô về tiền tệ được đưa ra trong tuần vừa qua cho thấy Ngân hàng Nhà nước đã vượt qua tình trạng lưỡng nan trong việc chọn lựa mục tiêu chống lạm phát hay tiếp tục thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
Thuốc đắng - liệu có dã tật?.

Thuốc đắng - liệu có dã tật?


Nhữnggiải pháp vĩ mô về tiền tệ được đưa ra trong tuần vừa qua cho thấy Ngânhàng Nhà nước  đã vượt qua tình trạng lưỡng nan trong việc chọn lựa mụctiêu chống lạm phát  hay tiếp tục thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.

Bộ giải pháp của Ngân hàng  Nhà nước  (NHNN) cho thấychống lạm phát  đang trở thành mục tiêu ưu tiên của chính sách tiền tệnăm 2008, tuy rằng ông Nguyễn Ngọc Bảo, Vụ trưởng Vụ Chính sách tiền tệNHNN đã khẳng định: “Mục tiêu của giải pháp cả gói này là nhằm kiềm chếlạm phát ở mức thấp hơn tăng trưởng kinh tế  nhưng tăng trưởng kinh tếvẫn ở mức cao”.

Bộ giải pháp cả gói này liệu có đạt được một cú “đúp”như mong muốn hay không, còn phải chờ được thử lửa trong thời gian  tới,nhưng trước mắt, nó đã gây ra những cơn choáng váng cho các ngân hàngthương mại (NHTM) và những nhà doanh nghiệp  trong nước.

Đầu tiên, việc tăng tỷ lệ dự trữ tối thiểu bắt buộc vàyêu cầu các NHTM phải mua một số lượng  lớn tín phiếu của NHNN, một biệnpháp nhằm hạn chế khối lượng tín dụng cung ứng từ hệ thống  NHTM với mụctiêu làm giảm khối tiền tệ nhằm chống lạm phát, đang gây ra một cú sốclớn cho các ngân hàng  vì ngay lập tức bị lâm vào tình trạng cạn kiệtthanh khoản. Trong cả hệ thống  ngân hàng  hiện chỉ có một vài ngân hàngchưa gặp tình trạng khan hiếm tiền đồng. Các ngân hàng  khác, trong cơndầu sôi lửa bỏng, đã có lúc phải vay trên thị trường  liên ngân hàng  vớimột lãi suất cao chưa từng có là 30%/năm.

Đứng trước nguy cơ toàn hệ thống  ngân hàng  khủng hoảngthanh khoản, theo nguồn tin báo chí, trong ba ngày kể từ 18-2-2008 NHNNđã phải bơm ra cho các NHTM 23 ngàn tỉ đồng, và dự kiến ngày 21-2 đưara thêm 10 ngàn tỉ đồng nữa nhằm giải tỏa cơn khát thanh khoản của hệthống ngân hàng  đồng thời làm giảm cơn sốt lãi suất trên thị trườngliên ngân hàng  mà trên thực tế, do chính NHNN gây ra. Với việc bơm tiềnkhẩn cấp này, một nguồn tin thân cận trong giới ngân hàng  cho biết,NHNN đã sử dụng gần hết một nửa hạn mức tiền đồng được phép đưa ra lưuthông trong năm 2008.

Đứng về mặt điều hành vĩ mô, việc tăng dự trữ bắt buộcđể thu một lượng lớn tiền từ các NHTM là một trong những biện phápchống lạm phát, nhưng sau đó NHNN bơm tiền ra thông qua thị trường  mởlà việc làm  có vẻ rất khó hiểu. Nếu chỉ là kinh doanh  tiền tệ thuầntúy, NHNN có vẻ được lợi lớn qua các nghiệp vụ này vì lãi suất tínphiếu chỉ bằng một nửa so với lãi suất trên thị trường  mở, nhưng điềunày sẽ khó được cảm thông về mặt quản lý vì nguồn tiền được bơm ra hìnhnhư cũng là nguồn vốn được thu vào trước đó từ một quyết định  hànhchính.

Đứng về mặt kỹ thuật, việc rút tiền và bơm tiền trongmột thời gian  ngắn ngủi xem ra không có tác động lớn đối với mục tiêulàm giảm khối tiền tệ. Tuy nhiên, hệ quả của nó đối với các NHTM lạithấy rất rõ. Chi phí của các ngân hàng  sẽ tăng lên qua việc phải vayNHNN với lãi suất cao - trong khi phải cho NHNN vay với lãi suất thấp(lãi suất tín phiếu NHNN dưới 8%). Nhiều NHTM cổ phần  phải miễn cưỡnglao vào cuộc cạnh tranh nâng cao lãi suất tiền gửi tiết kiệm  đầy rủi ronhằm đáp ứng nhu cầu thanh khoản trước mắt, nhất là các ngân hàng  nhỏvì không thể trúng thầu trên thị trường  mở.

Chẳng hạn, ngày 20-2-2008, NHNN cung ứng 15.000 tỉđồng trên thị trường  mở với lãi suất 15%/năm cho kỳ hạn 14 ngày, mộtlượng tiền cung ứng cao nhất từ trước đến nay và Ngân hàng  Đầu tư vàPhát triển Việt Nam  đã trúng thầu toàn bộ khối lượng tiền cung ứng nóitrên. Lãi suất tiết kiệm  tăng có nghĩa là lãi suất cho vay sẽ tăng. Cácdoanh nghiệp Việt Nam  đang phải đối mặt với chi phí tài chính  tăng lênvà điều này sẽ làm giảm hưng phấn của họ trong việc mở rộng sản xuấtkinh doanh. Phí tổn cao cũng sẽ làm năng lực  cạnh tranh của họ giảm đitrên đấu trường thương mại  quốc tế.

Giải pháp thứ hai  mà NHNN đề ra là tiếp tục mua vàongoại tệ để dự trữ trên cơ sở nguồn tiền cung ứng đã được duyệt, đồngthời hút tiền về bằng nhiều công cụ phù hợp với từng thời điểm, xem racũng chưa rõ ràng về mặt quản lý vĩ mô, tuy rằng cũng thể hiện một ýchí “chống lạm phát”, không để việc mua ngoại tệ  làm tăng lượng tiềncung ứng vào nền kinh tế.

Tuy nhiên, điều này có nghĩa là NHNN sẽ chỉ mua vàomột số lượng  ngoại tệ  tương ứng với khối lượng tiền đồng được phép cungứng theo kế hoạch  đã được Chính phủ  duyệt trước. Nếu như thế, người tacó thể hiểu rằng việc mua ngoại tệ  của NHNN đang được quan niệm là mộtquyền “muốn mua thì mua” chứ không phải là một nghĩa vụ của một ngânhàng trung ương mua ngoại tệ  vào nhằm đảm bảo chủ quyền tiền tệ quốcgia đồng thời khắc phục  tình trạng đôla hóa nền kinh tế. Hậu quả là cácNHTM vẫn phải luôn luôn đối mặt với nguy cơ là sẽ có thời điểm - khi áplực lạm phát  tăng cao - NHNN có thể từ chối mua ngoại tệ  vào, điều đãtừng xảy ra trước đây.

Mặt khác, việc mua ngoại tệ  dự trữ của NHNN lại còn cómột điều kiện kèm theo là phải được thực hiện đồng thời với việc húttiền về bằng nhiều công cụ phù hợp với từng thời điểm. Điều này có thểđược hiểu là: (1) Việc đáp ứng tiền đồng cho các dòng vốn từ nước ngoài(FDI, FII), một hành động  được xem là tạo ra nguy cơ lạm phát, sẽ đượcbù đắp bằng việc rút vốn tiền đồng từ các khoản đầu tư  hay tín dụngtrong nước và (2) Nếu không thể hút tiền về bằng các công cụ khác, NHNNcó thể sẽ không tiếp tục mua ngoại tệ  nữa. Đây chính là lý do  khiếnnhiều chuyên gia  dự đoán là tỷ giá đồng bạc Việt Nam  sẽ lên cao so vớiđồng USD, thêm vào đó, nguy cơ sụt giảm các khoản tín dụng và đầu tưcủa khu vực  kinh tế  tư doanh rất dễ trở thành hiện thực trong một tươnglai gần.

Giải pháp thứ ba  không để lãi suất âm được hiểu nhưNHNN sẽ theo đuổi trong một thời gian  nhất định một chính sách thắtchặt tiền tệ, duy trì một mức lãi suất cao cho toàn hệ thống  ngân hàngViệt Nam. Trong khi chúng ta chưa thể xác định tỷ lệ lạm phát  trongtương lai là bao nhiêu (chỉ có thể mong muốn là nó sẽ thấp hơn tỷ lệtăng trưởng kinh tế), việc duy trì một chính sách lãi suất cao kéo dàisẽ làm cho phí tổn của các doanh nghiệp  gia tăng, đồng thời làm cho cácdoanh nghiệp giảm bớt các khoản vay để phát triển sản xuất kinh doanhvà thực hiện các dự án đầu tư  mới. Điều này sẽ làm giảm năng lực  cạnhtranh và thị phần của họ trên thị trường  quốc tế.

Một mức lãi suất cao sẽ làm tăng tiết kiệm  và giảmtiêu dùng, những tác động làm giảm tốc độ lạm phát, nhưng đồng thờicũng sẽ làm mất đi các công ăn việc làm  đang có và làm mất đi cơ hộitạo ra công ăn việc làm  mới do các doanh nghiệp  sẽ thu hẹp các hoạtđộng sản xuất kinh doanh. Một chính sách lãi suất đúng đắn cần có địnhhướng (loại tín dụng nào nên khuyến khích và loại nào không nên) mới cóthể xác định được liều lượng (áp dụng mức lãi suất nào cho loại tíndụng nào) để tránh hệ quả đáng tiếc là chống lạm phát  thành công  nhưnglại tạo ra suy thoái.

Cuối cùng, trong bộ giải pháp, biện pháp củng cố lànhmạnh hóa hệ thống  tổ chức tín dụng và các định chế tài chính  là biệnpháp cần thiết, lâu dài nhưng cũng rất cần phải được triển khai càngsớm càng tốt. Điều này, tùy thuộc rất nhiều vào vai trò của một NHNNmạnh, có trách nhiệm trong việc xây dựng  và triển khai chính sách tiềntệ. Nhưng một hệ thống  NHTM mạnh không chỉ là một hệ thống  tín dụngmạnh mà nhất thiết phải là một hệ thống  thanh toán mạnh.

Nếu nền kinh tế  không thể thực hiện được phần lớn cácgiao dịch thanh toán của nó qua hệ thống  ngân hàng, các giải pháp thựchiện chính sách tiền tệ của NHNN sẽ không thể triển khai hiệu quả đểđạt các mục tiêu kinh tế  vĩ mô, đặc biệt đối với mục tiêu ổn định giácả và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Liều thuốc hay để trị dứt các cơnbệnh thường là các liều thuốc đắng. Nhưng nếu thuốc đắng mà lại khôngtrị được bệnh thì sẽ rất đau khổ cho người bệnh.

Tìm bài viết khác
TTO
Updated: 02/03/2008 | Views: 257 | Comments: 0

Comments - Thuốc đắng - liệu có dã tật?

Hiện tại chưa có bình luận nào về bài viết Thuốc đắng - liệu có dã tật?!

Bạn có ý kiến gì về bài viết Thuốc đắng - liệu có dã tật? này? Hãy gởi suy nghĩ, bình luận, đánh giá, lời khuyên ... của bạn về bài viết Thuốc đắng - liệu có dã tật? bạn tại đây.

Other articles

Similar Articles Thuốc đắng - liệu có dã tật?

Older than Thuốc đắng - liệu có dã tật? in Triết Lý Trong Kinh Doanh

Newer than Thuốc đắng - liệu có dã tật? in Triết Lý Trong Kinh Doanh

Recently Published - Triết Lý Trong Kinh Doanh
Day ao thuat
Latest Comments in Triết Lý Trong Kinh Doanh
By babyvnt1. bai viet rat hay.cam on ban da chia se kinh nghiem thu vi va bo ich nay....
Most Comments in Triết Lý Trong Kinh Doanh
Monthly Most Views - Triết Lý Trong Kinh Doanh
  English Tiếng Việt 
Bạn đang xem bài viết Thuốc đắng - liệu có dã tật? được gởi trong chủ đề Triết Lý Trong Kinh Doanh - Tạp Chí Kinh Doanh. Bài viết Thuốc đắng - liệu có dã tật? này được lưu trên Server thành hai bản: Thuốc đắng - liệu có dã tật? có dấuThuốc đắng - liệu có dã tật? không dấu. Bạn có thể gởi ý kiến bình luận, đóng góp về bài viết Thuốc đắng - liệu có dã tật? này tại phần gởi bình luận ở cuối nội dung bài viết. Lưu ý nội dung của bài viết Thuốc đắng - liệu có dã tật? này có thể không còn phù hợp với thời điểm hiện tại. Nếu phát hiện điều này, xin bạn báo cho BQT biết để gỡ bỏ nó.
Home Page | Privacy | Contact | Friend Links | Search | Sitemap | Up
Copyright © 2008 PhanVien.Com . All rights reserved.