Tìm kiếm PhanVien.Com Web
Download PhanVien.Com Toolbar
Danh mục thông tin

Memory-RAM-Một số thuật ngữ và kỹ thuật

System memory: khi ta nói đến "memory" thì có lẽ hơi mơ hồ và khó hiểu cho rất nhiều bạn, nhất là những bạn chưa có quen biết vi cấu trúc máy tính nhiều. Thực ra từ memory trong quá khứ được diễn tả như đại diện cho tất cả "vùng nhớ" trong computer ngoại trừ CPU.
Memory-RAM-Một số thuật ngữ và kỹ thuật.

Memory-RAM-Một số thuật ngữ và kỹ thuật

 Ðó là trong quá khứ khi mà vi tính chưa phát triễn mạnh mẽ, chứ nếu dùng từ memory mà đề cập trong những thế hệ máy tính  hiện nay thì danh từ nầy hoàn toàn mù mờ và không chích xác diễn tả các bộ phận trong máy vi tính nửa. Chúng ta có RAM, ROM, DRAM, SRRAM, DDR SDRAM... Ðể tránh sự lẫn lộn, tôi xin phép diễn tả ngắn gọn về memory và các thuật ngữ liên quan để bạn hiểu rõ.

Memory: Memory đơn giản là một thiết bị nhớ nó có thể ghi và chứa thông tin. ROM, RAM, Cache, Hard disk, Floppy disk, CD.... đều có thể gọi là memory cả (vì nó vẫn lưu thông tin). Dù là loại memory nào bạn cũng nên để ý đến các tính chất sau đây:
  • Sức chứa: thiết bị có thể chứa được bao nhiêu? Ví dụ: CD chứa được 650MB-700MB, Floppy disk chứa được 1.4MB, Cache  chứa được 256KB...
  • tốc độ truy nhập: bạn nên lưu ý đến tốc độ vận truyền thông  tin của thiết bị. Bạn có memory loại "chạy lẹ" khi mà thời gian  truy cập  thông tin  ngắn hơn. Đây là phần quan trọng  quyết định  tốc độ truy cập  của thiết bị. Ví dụ đơn giản là nếu bạn có con CPU chạy tốc độ 1.5Ghz trong khi đó hard disk của bạn thuộc loại "rùa bò" thì dù CPU có lẹ đến đâu nó cũng đàng phải....chờ thôi!
    Tính về tốc độ thì CPU bao giờ cũng lẹ nhất, sau đó là Cache, sau nữa là các loại RAM.
  • Interface: bạn nên xem cấu trúc bên ngoài của memory nó có phù hợp với (ăn khớp) các thiết bị khác của bạn không.  Ví dụ, nhiều loại RAM  tren thị trường  có số chân cắm và đặc tính khác nhau. Để phù hợp cho motherboard của bạn, bạn nên xem xét motherboard trước khi mua memory.

Các loại memory

ROM (Read Only Memory)
Ðây là loại memory dùng trong các hãng sãn xuất là chủ yếu. Nó có đặc tính là thông tin  lưu trữ  trong ROM  không thể xoá được và không sửa được, thông tin  sẽ được lưu trữ  mãi mãi. Nhưng ngược lại ROM  có bất lợi là một khi đã cài đặt thông tin  vào rồi thì ROM  sẽ không còn tính đa dụng (xem như bị gắn "chết" vào một nơi nào đó). Ví dụ điển hình là các con "chip" trên motherboard hay là BIOS ROM  để vận hành khi máy vi tính vừa khởi động.

PROM (Programmable ROM)
Mặc dù ROM  nguyên thủy là không xoá/ghi được, nhưng do sự tiến bộ trong khoa học, các thế hệ sau của ROM  đã đa dụng hơn như PROM. Các hãng sản xuất có thể cài đặt lại ROM  bằng cách dùng các loại dụng cụ đặc biệt và đắt tiền (khả năng người dùng  bình thường không thể với tới được). Thông tin  có thể được "cài" vào chip  và nó sẽ lưu lại mãi trong chip. Một đặc điểm lớn nhất của loại PROM là thông tin  chỉ cài đặt một lần mà thôi. CD có thể được gọi là PROM vì chúng ta có thể copy  thông tin  vào nó (một lần duy nhất) và không thể nào xoá được.

EPROM (Erasable Programmable ROM)
Một dạng cao hơn PROM là EPROM, tức là ROM  nhưng chúng ta có thể xoá và viết lại được. Dạng "CD-Erasable" là một điển hình. EPROM khác PROM ở chổ là thông tin  có thể được viết và xoá nhiều lần theo ý người xử dụng, và phương pháp xoá là hardware (dùng tia hồng ngoại xoá) cho nên khá là tốn kém và không phải ai cũng trang bị được.

EEPROM (Electronic Erasable Programmable ROM)
Ðây là một dạng cao hơn EPROM, đặt điểm khác biệt duy nhất so với EPROM là có thể ghi và xoá thông tin  lại nhiều lần bằng software thay vì hardware. Ví dụ điển hình cho loại EPROM nầy là "CD-Rewritable" nếu bạn ra cửa hàng mua một cái CD-WR thì có thể thu và xoá thông tin  mình thích một cách tùy ý. Ứng dụng của EEPROM cụ thể nhất là "flash BIOS". BIOS vốn là ROM flash  BIOS tức là tái cài đặt thông tin  (upgrade) cho BIOS. Cái tiện nhất ở phương pháp nầy là bạn không cần mở thùng máy ra mà chỉ dùng software  điều khiển gián tiếp.

RAM (Random Access  Memory)
Rất nhiều người nghĩ là RAM  khác với ROM  trên nhiều khía cạnh nhưng thực tế RAM  chẳng qua là thế hệ sau của ROM  mà thôi. Cả RAM ROM  đều là "random access  memory" cả, tức là thông tin  có thể được truy cập  không cần theo thứ tự. Tuy nhiên ROM  chạy chậm hơn RAM  rất nhiều. Thông thường ROM  cần trên 50ns để vận hành thông tin  trong khi đó RAM  cần dưới 10ns (do cách chế tạo). Tôi sẽ trở lại với phần "shadow BIOS ROM" sau nầy.

SRAM (Static RAM) và DRAM (Dynamic RAM)
SRAM là loại RAM  lưu giữ data mà không cần cập nhật thường xuyên (static) trong khi DRAM là loại RAM  cần cập nhật data thường xuyên (high refresh rate). Thông thường data trong DRAM sẽ được refresh (làm tươi) nhiều lần trong một second để lưu giử lại những thông tin  đang lưu trữ, nếu không refresh lại DRAM thì dù nguồn điện không ngắt, thông tin  trong DRAM cũng sẽ bị mất.
SRAM chạy lẹ hơn DRAM.  Nhiều người có thể lầm lẫn là DRAM là "dynamic" cho nên ưu việt hơn. Điều đó không đúng. Trên thực tế, chế tạo SRAM tốn kém hơn hơn DRAM và SRAM thường có kích cỡ lớn hơn DRAM, nhưng tốc độ nhanh hơn DRAM vì không phải tốn thời gian  refresh nhiều lần. Sự ra đời của DRAM chỉ là một lối đi vòng để hạ giá sản xuất của SRAM (tôi sẽ nói rõ hơn về bên trong CPU, DRAM, và SRAM).

FPM-DRAM (Fast Page Mode DRAM)
Ðây là một dạng cải tiến của DRAM, về nguyên lý thì FPM DRAM sẽ chạy lẹ hơn DRAM một tí do cải tiến cách dò địa chỉ trước khi truy cập  thông tin. Những loại RAM  như FPM hầu như không còn sản xuất trên thị trường  hiện nay nữa.

EDO-DRAM (Extended Data Out DRAM)
Là một dạng cải tiến của FPM DRAM, nó chạy lẹ hơn FPM DRAM một nhờ vào một số cải tiến cách dò địa chỉ trước khi truy cập  data. Một đặc điểm nữa của EDO DRAM là nó cần support của system  chipset. Loại memory nầy chạy với máy 486 trở lên (tốc độ dưới 75MHz). EDO DRAM cũng đã quá cũ so với kỹ thuật  hiện nay.  EDO-DRAM chạy lẹ hơn FPM-DRAM từ 10 - 15%.

BDEO-DRAM (Burst Extended Data Out DRAM)
Là thế hệ sau của EDO DRAM, dùng kỹ thuật  "pineline technology" để rút ngắn thời gian  dò địa chỉ của data. Nếu các bạn để ý những mẫu RAM  tôi giới thiệu  trên theo trình tự kỹ thuật  thì thấy là hầu hết các nhà chế tạo tìm cách nâng cao tốc độ truy cập  thông tin  của RAM  bằng cách cải tiến cách dò địa chỉ hoặt cách chế tạo hardware. Vì việc giải thích về hardware rất khó khăn và cần nhiều kiến thức  điện tử  cho nên tôi chỉ lướt qua hoặc trình bày đại ý.  Nhiều mẩu RAM  tôi trình bày có thể không còn trên thị trường  nữa, tôi chỉ trình bày để bạn có một kiến thức  chung mà thôi.

SDRAM (Synchronous DRAM)
Ðây là một loại RAM  có nguyên lý chế tạo khác hẳn với các loại RAM  trước. Như tên gọi của nó là "synchronous" DRAM, synchronous có nghĩa là đồng bộ, nếu bạn học về điện tử  số thì sẽ rõ hơn ý nghĩ của tính đồng bộ.
Synchronous là một khái niệm rất quan trọng  trong lĩnh vực digital, trong giới hạn về chuyên môn tôi cũng rất lấy làm khó giải thích. Bạn chỉ cần biết là RAM  hoạt động  được là do một memory controller (hay clock controller), thông tin  sẽ được truy cập  hay cập nhật mổi khi clock (dòng điện) chuyển từ 0 sang 1, "synchronous" có nghĩa là ngay lúc clock nhảy từ 0 sang 1 chứ không hẳn là clock qua 1 hoàn toàn (khi clock chuyển từ 0 sang 1 hay ngược lại, nó cần 1 khoảng thời gian  interval, tuy vô cùng ngắn nhưng cũng mất 1 khoảng thời gian, SDRAM không cần chờ khoảng interval này kết thúc hoàn toàn rồi mới cập nhật thông tin, mà thông tin  sẽ được bắt đầu cập nhật ngay trong khoảng interval). Do kỹ thuật  chế tạo mang tính bước ngoặc nầy, SDRAM và các thế hệ sau có tốc độ cao hơn hẳn các loại DRAM trước.
Đây là loại RAM  thông dụng nhất trên thị trường  hiện nay, tốc độ 66-100-133Mhz.

DDR SDRAM (Double Data Rate SDRAM)
Ðây là loại memory cải tiến từ SDRAM. Nó nhân đôi tốc độ truy cập  của SDRAM bằng cách dùng cả hai quá trình đồng bộ khi clock chuyển từ 0 sang 1 và từ 1 sang 0. Ngay khi clock của memory chuyển từ 0 sang 1 hoặc từ 1 sang 0 thì thông tin  trong memory được truy cập.
Loại RAM  này được CPU Intel  và AMD hỗ trợ, tốc độ hiện tại vào khoảng 266Mhz. (DDR-SDRAM đã ra đời trong năm 2000)

DRDRAM (Direct Rambus DRAM)
Ðây lại là một bước ngoặc mới trong lĩnh vực chế tạo memory, hệ thống  Rambus (cũng là tên của một hãng chế tạo nó) có nguyên lý và cấu trúc chế tạo hoàn toàn khác loại SDRAM truyền thống. Memory sẽ được vận hành bởi một hệ thống  phụ gọi là Direct Rambus Channel có độ rộng 16 bit và một clock 400MHz điều khiển. (có thể lên 800MHz)
Theo lý thuyết thì cấu trúc mới nầy sẽ có thể trao đổi thông tin  với tốc độ 800MHz x 16bit = 800MHz x 2 bytes = 1.6GB/giây. Hệ thống  Rambus DRAM như thế nầy cần một serial presence detect (SPD) chip  để trao đổi với motherboard. Ta thấy kỹ thuật  mới nầy dùng 16bits interface, trông trái hẳn với cách chế tạo truyền thống  là dùng 64bit cho memory, bởi thế kỹ thuật  Rambus (sở hữu chủ của Rambus và Intel) sẽ cho ra đời loại chân Rambus Inline Memory Module (RIMM) tương đối khác so với memory truyền thống.
Loại RAM  này hiện nay chỉ được hỗ trợ bởi CPU Intel  Pentum IV, khá đắt, tốc độ vào khoảng 400-800Mhz

SLDRAM (Synchronous-Link DRAM)
Là thế sau của DRDRAM, thay vì dùng Direct Rambus Channel với chiều rộng 16bit và tốc độ 400MHz, SLDRAM dùng bus 64bit chạy với tốc độ 200MHz. Theo lý thuyết thì hệ thống  mới có thể đạt được tốc độ 400Mhz x 64 bits = 400Mhz x 8 bytes = 3.2Gb/giây, tức là gấp đôi DRDRAM. Ðiều thuận tiện là là SLDRAM được phát triển bởi một nhóm 20 công ty  hàng đầu về vi tính cho nên nó rất da dụng và phù hợp nhiều hệ thống  khác nhau.

VRAM (Video RAM)
Khác với memory trong hệ thống  và do nhu cầu về đồ hoạ ngày càng cao, các hãng chế tạo graphic card  đã chế tạo VRAM riêng cho video  card  của họ mà không cần dùng memory của hệ thống  chính. VRAM chạy lẹ hơn vì ừng dụng Dual Port technology nhưng đồng thời cũng đắt hơn rất nhiều.

SGRAM (Synchronous Graphic RAM)
sản phẩm  cải tiến của VRAM mà ra, đơn giản nó sẽ đọc và viết từng block thay vì từng mảng nhỏ.

Flash Memory
sản phẩm  kết hợp giửa RAM  và hard disk. Có nghĩa là Flash  memory có thể chạy lẹ như SDRAM mà và vẫn lưu trữ  được data khi power  off.

PC66, PC100, PC133, PC1600, PC2100, PC2400....
Chắc khi mua sắm RAM  bạn sẽ thấy họ đề cập đến những từ như trên. PC66, 100, 133MHz thì bạn có thể hiểu đó là tốc độ của hệ thống  chipset của motherboard. Nhưng PC1600, PC2100, PC2400 thì có vẻ hơi...cao và quái lạ! Thực ra những từ nầy ra đời khi kỹ thuật  Rambus phát triển. Ðặt điểm của loại motherboard nầy là dùng loại DDR SDRAM (Double Data Rate Synchronous Dynamic RAM). Như đã đề cập ở phần trên, DDR SDRAM sẽ chạy gấp đôi (trên lý thuyết) loại RAM  bình thường vì nó dùng cả rising and falling edge của system  clock. Cho nên PC100 bình thường sẽ thành PC200 và nhân lên 8 bytes chiều rộng của DDR SDRAM: PC200 * 8 = PC1600. Tương tự PC133 sẽ là PC133 * 2 * 8bytes = PC2100PC150 sẽ là PC150 * 2 * 8 = PC2400.

BUS: gồm nhiều dây dẫn điện nhỏ gộp lại, là hệ thống  hành lang để dẫn data từ các bộ phận trong computer  (CPU, memory, IO devices). BUS có chứa năng như hệ thống  ống dẫn nước, nơi nào ống to thì nước sẽ chạy qua nhiều hơn, còn sức nước mạnh hay yếu là do các bộ phận khác tạo ra.
FSB (Front Side Bus) hành lang chạy từ CPU tới main  memory
BSB (Back Side Bus) hành lang chạy từ memory controller tới L2 (Cache level 2)

Cache memory
Là loại memory có dung lượng rất nhỏ (thường nhỏ hơn 1MB) và chạy rất lẹ (gần như tốc độ của CPU). Thông thường thì Cache  memory nằm gần CPU và có nhiệm vụ cung cấp những data thường (đang) dùng cho CPU. Sự hình thành của Cache  là một cách nâng cao hiệu quả truy cập  thông tin  của máy tính  mà thôi. Những thông tin  bạn thường dùng (hoặc đang dùng) thường được chứa trong Cache, mổi khi xử lý hay thay đổi thông tin, CPU sẽ dò trong Cache  memory trước xem có tồn tại hay không, nếu có nó sẽ lấy ra dùng lại còn không thì sẽ tìm tiếp vào RAM  hoặc các bộ phận khác. Lấy một ví dụ đơn giản là nếu bạn mở Microsoft Word  lên lần đầu tiên sẽ thấy hơi lâu nhưng mở lên lần thứ nhì thì lẹ hơn rất nhiều vì trong lần mở thứ nhất các lệnh (instructions) để mở Microsoft Word  đã được lưu giữ trong Cache, CPU chỉ việc tìm nó và xài lại thôi.
Lý do Cache  memory nhỏ là vì nó rất đắt tiền và chế tạo rất khó khăn bởi nó gần như là CPU (về cấu thành và tốc độ). Thông thường Cache  memory nằm gần CPU, trong nhiều trường hợp Cache  memory nằm trong con CPU luôn. Người ta gọi Cache  Level 1 (L1), Cache  level 2 (L2)...là do vị trí của nó gần hay xa CPU. Cache  L1 gần CPU nhất, sau đó là Cache  L2...

Interleave
Là một kỹ thuật  làm tăng tốc độ truy cập  thông tin  bằng giảm bớt thời gian  nhàn rổi của CPU. Ví dụ, CPU cần đọc thông tin  thông từ hai nơi A và B khác nhau, vì CPU chạy quá lẹ cho nên A chưa kịp lấy đồ ra CPU phải chờ rồi!  A thấy CPU chờ thì phiền quá mới bảo CPU sang B đòi luôn sau đó trỡ lại A lấy cũng chưa muộn! Bởi thế CPU có thể rút bớt thời gian  mà lấy được đồ ở cả A và B. Toàn bộ nghĩa interleave là vậy.

Bursting
Cũng là một kỹ thuật  khác để giảm thời gian  truyền tải thông tin  trong máy tính. Thay vì CPU lấy thông tin  từng byte một, bursting sẽ giúp CPU lấy thông tin  mỗi lần là một block. 

ECC (Error Correction Code)
Khi mua RAM  bạn có thể thấy cụm từ nầy mô tả phụ thêm vào loại RAM. Ðây là một kỹ thuật  để kiểm tra và sửa lổi trong trường hợp 1 bit nào đó của memory bị sai giá trị  trong khi lưu chuyển data. Những loại RAM  có ECC thường dùng cho các loại computer  quan trọng  như server. Tuy nhiên không có ECC cũng không phải là mối lo lớn vì theo thống kê  1 bit trong memory có thể bị sai giá trị  khi chạy trong gần 750 giờ, người tiêu dùng bình thường như chúng ta đâu có ai mở máy liên tục tới...1 tháng đâu chớ!

Register và Buffer (cùng như nhau)
Ðôi khi mua memory bạn có thể thấy người bán đề cập đến tính chất của memory là có buffer, register...Buffer và Register chủ yếu dùng để quản lý các modules trên RAM. Trông hình vẽ dưới chắc bạn cũng sẽ nhận ra được loại RAM  có buffer. Loại RAM  có buffer hay register thì sẽ chạy chậm hơn loại RAM  không có buffer hay register một ít.

CAS (Column Address Strobe) latency
Latency nghĩa là khoảng thời gian  chờ đợi để làm cái gì đó, CAS latency là thuật ngữ diễn tả sự delay trong việc truy cập  thông tin  của memory và được tính bằng clock cycle. Ví dụ, CAS3 là delay 3 "clock cycle". Trong quá khứ các nhà sản xuất  cố gắng  hạ thấp chỉ số delay xuống nhưng nó sẽ tỷ lệ nghịch với giá thành sản phẩm.

Cách tính dung lượng của memory (RAM)
Thông thường RAM  có hai chỉ số, ví dụ, 32Mx4. Thông số đầu biểu thị số hàng (chiều sâu) của RAM  trong đơn vị Mega Bit, thông số thứ nhì biểu thị số cột (chiều ngang) của RAM. 32x4 = 32MegaBit x 4 cột = 128 Mega Bit = 128/8 Mega Bytes = 16MB. Có nhiều bạn có thể lầm tưởng thông số đầu là Mega Bytes nhưng kỳ thực các hãng sãn xuất mặc định nó là Mega Bit, bạn nên lưu nhớ cho điều nầy khi mua RAM. Ví dụ, 32Mx64 RAM  tức là một miếng RAM  256MB.

Số Pin của RAM

Khi chọn RAM, ngoài việc chú ý tốc độ, sức chứa, ta phải coi số Pin  của nó. Thông thường sốPin của RAM  là (tuỳ vào loại RAM): 30, 72, 144, 160, 168, 184 pins.

SIMM (Single In-Line Memory Module)
Ðây là loại ra đời sớm và có hai loại hoặc là 30 pins hoặc là 72 pins. Người ta hay gọi rõ là 30-pin SIMM hoặc 72-pin SIMM. Loại RAM  (có cấu hình SIMM) nầy thường tải thông tin  mỗi lần 8bits, sau đó phát triễn lên 32bits. Bạn cũng không cần quan tâm  lắm đến cách vận hành của nó, nếu ra ngoài thị trường  bạn chỉ cần nhận dạng SIMM khi nó có 30 hoặc 72 pins. Loại 72-pin SIMM có chiều rộng 41/2" trong khi loại 30-pin SIMM có chiều rộng 31/2" (xem hình)

DIMM (Dual In-line Memory Modules)
Cũng gần giống như loại SIMM mà thôi nhưng có số pins là 72 hoặc 168. Một đặc điểm khác để phân biệt DIMM với SIMM là cái chân (pins) của SIMM dính lại với nhau tạo thành một mảng để tiếp xúc với memory slot trong khi DIMM có các chân hoàn toàn cách rời độc lập  với nhau. Một đặc điểm phụ nửa là DIMM được cài đặt thẳng đứng (ấn miếng RAM  thẳng đứng vào memory slot) trong khi SIMM thì ấn vào nghiêng khoảng 45 độ. Thông thường loại 30 pins tải data 16bits, loại 72 pins tải data 32bits, loại 144 (cho notebook) hay 168 pins tải data 64bits.

SO DIMM (Small Outline DIMM)
Ðây là loại memory dùng cho notebook, có hai loại pin  là 72 hoặc 144.  Nếu bạn để ý một tý thì thấy chúng có khổ hình nhỏ phù hợp cho notebook. Loại 72pins vận hành với 32bits, loại 144pins vận hành với 64bits.

RIMM (Rambus In-line Memory Modules) và SO RIMM (RIMM dùng cho notebook)
Là technology của hãng Rambus, có 184 pins (RIMM) và 160 pins (SO RIMM) và truyền data mỗi lần 16bit (thế hệ củ chỉ có 8bits mà thôi) cho nên chạy nhanh hơn các loại củ. Tuy nhiên do chạy với tốc độ cao, RIMM memory tụ nhiệt rất cao thành ra lối chế tạo nó cũng phải khác so với các loại RAM  truyền thống. Như hình vẽ bên dưới bạn sẽ thấy miến RAM  có hai thanh giải nhiệt kẹp hai bên gọi là heat speader.  Nếu bạn dùng Pentium 4 sẽ gặp loại RAM  nầy.


Tìm bài viết khác
Updated: 09/04/2008 | Views: 1280 | Comments: 0

Comments - Memory-RAM-Một số thuật ngữ và kỹ thuật

Hiện tại chưa có bình luận nào về bài viết Memory-RAM-Một số thuật ngữ và kỹ thuật!

Bạn có ý kiến gì về bài viết Memory-RAM-Một số thuật ngữ và kỹ thuật này? Hãy gởi suy nghĩ, bình luận, đánh giá, lời khuyên ... của bạn về bài viết Memory-RAM-Một số thuật ngữ và kỹ thuật bạn tại đây.

Other articles

Similar Articles Memory-RAM-Một số thuật ngữ và kỹ thuật

Older than Memory-RAM-Một số thuật ngữ và kỹ thuật in Kiến Thức Phần Cứng

Newer than Memory-RAM-Một số thuật ngữ và kỹ thuật in Kiến Thức Phần Cứng

Recently Published - Kiến Thức Phần Cứng
Day ao thuat
Latest Comments in Kiến Thức Phần Cứng
By nguyen quoc khanh. tôi thấy ai cũng chỉ cách ráp remote sài bằng công com không à.nhưng .....
By phong. Mua loa, theo tôi nghĩ bạn không cần để ý nhiều tới hình thức. Trước .....
By nguyenthanhtu. Cách xem thông tin linh kiện phần cứng máy tính trên các bảng báo giá...
By Mr New. the nho cua toi dang su dung trong may Nokia6120 khi lay ra va cho vao may Nokia3500 thi .....
By Ho Tien Nam. Toi thay bai viet rat hay. Co quan toi co mot may tinh khong hieu sao no chi chay hinh .....
By nguyễn vỏ trung hiếu. mấy tính của tôi bị tình trang khi mo mang hình lên thì nó lại tắt tôi .....
By Thanh. Máy mình là dell E1505, core 2 dual 2G, card màn hình ATI X1400, không hiểu sao .....
By hậu. cac anh ói co the giup em hieu hon ve cache duy nhat hay cache rieng le dc hok?cam on .....
Most Comments in Kiến Thức Phần Cứng
Monthly Most Views - Kiến Thức Phần Cứng
  English Tiếng Việt 
Bạn đang xem bài viết Memory-RAM-Một số thuật ngữ và kỹ thuật được gởi trong chủ đề Kiến Thức Phần Cứng - Công Nghệ Thông Tin. Bài viết Memory-RAM-Một số thuật ngữ và kỹ thuật này được lưu trên Server thành hai bản: Memory-RAM-Một số thuật ngữ và kỹ thuật có dấuMemory-RAM-Một số thuật ngữ và kỹ thuật không dấu. Bạn có thể gởi ý kiến bình luận, đóng góp về bài viết Memory-RAM-Một số thuật ngữ và kỹ thuật này tại phần gởi bình luận ở cuối nội dung bài viết. Lưu ý nội dung của bài viết Memory-RAM-Một số thuật ngữ và kỹ thuật này có thể không còn phù hợp với thời điểm hiện tại. Nếu phát hiện điều này, xin bạn báo cho BQT biết để gỡ bỏ nó.
Home Page | Privacy | Contact | Friend Links | Search | Sitemap | Up
Copyright © 2008 PhanVien.Com . All rights reserved.